Bình giảng bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão

(Lời giải văn) – Hãy Bình giảng bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão để làm nổi bật vẻ đẹp của con người và quân đội thời Trần. ( Bài làm văn hay của bạn Nguyễn Thị Lợi).

Đề bài: Bình giảng bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão

BÀI LÀM

Nói đến vẻ đẹp của đất nước Việt Nam, một đất nước với bốn nghìn năm lịch sử, với bốn nghìn thế hệ người Việt Nam ra trận, họ đã ngã xuống để bảo vệ quê hương.  Nằm trong mạnh nguồn cảm xúc của lòng yêu nước ấy, làm sao ta có thể quên được đó là vẻ đẹp của con người thời nhà Trần. Có thể nói, đây là giai đoạn lịch sử mà dân tộc Việt Nam cảm thấy đáng tự hào nhất trong lịch sử bốn nghìn năm bảo vệ và dựng xây đất nước. Nhắc đến vẻ đẹp ấy, làm sao ta có thể quên được tên tuổi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn đã viết lên những vần thơ thần trong bài Hich tướng sĩ: “Ta thường đến buổi quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa…” . Ta cũng k thể nào quên được đó là hoàng tử Trần Quốc Toản, không được tham gia vào hội nghị Diên Hồng vì tuổi còn quá nhỏ, tay bóp nát quả cam về thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch, báo hoàng ân” và hi sinh nơi sa trường. Thái sư Trần Thủ Độ từng tuyên ngôn với cuộc đời này rằng “Đầu của thần còn nằm trên cổ, xin bệ hạ hãy cứ yên lòng” và hình xăm trên tay của mỗi người lính thời nhà trần đó là hai chứ “Sát Thát” (giết giặc)”. Hình ảnh những bô lão, tất cả đều đồng loạt xin đánh chứ không có chuyện đầu hàng trước kẻ thù. Ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, đây là những ngày tháng đáng nhớ nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam. Nằm trong bản giao hưởng ấy, ta đừng quên đó là tên tuổi của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Xuất thân bình dân, không hề qua khoa bảng thế nhưng ông lại là danh tướng thời nhà Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ song toàn. Mang trong mình là hào khí “Đông A”, mang khát vọng lập công danh. Điều này được thể hiện ở bài thơ “Thuật Hoài” . Bài thơ này được sáng tác trong những năm 1284, thông qua bài thơ này ta thấy cái chí làm trai ở đời, vẻ đẹp của con người và quân đội thời nhà Trần.Thuật Hoài được dịch là “Tỏ lòng”, Tỏ lòng ở đây không phải là bày tỏ tình cảm của nam nữ mà ở đây nghĩa là “tỏ chí làm trai”. Trong văn chương thời xưa, đặc biệt là văn trung đại, ta nhận thấy “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”. Đã là văn chương thì phải truyền tải được đạo lí, đã là thơ ca thì phải thể hiện được chí làm trai. Bài thơ Tỏ lòng được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, cả bài thơ chỉ vỏn vẹn trong bốn câu thơ 28 tiếng nhưng ta thấy được khí phách con người thời nhà Trần, quân đội nhà Trần và chí làm trai của Phạm Ngũ Lão

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”

Ở câu thơ thứ nhất

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu”

Trong bản dịch Tỏ lòng của Bùi Văn Nguyên “hoành sóc” được dịch thành “múa giáo”. Chúng ta biết rằng trong toán học, trục tung là trục nằm dọc còn trục hoành là trục nằm ngang. “Múa giáo”nghĩa là hành động khoe tài, ở đây phải là hoành sóc là tầm ngang của ngọn giáo là vẻ đẹp của con người thời nhà trần với tư thế sẵn sàng chiến đấu, tâm thế là bản lĩnh kiên cường. Vẻ đẹp ấy được xây dựng trên hai phương diện . Một là không gian là chiều rộng của giang sơn, hai là “cáp kỷ thu” biết bao những mùa thu đã trôi qua , thời gian đã trôi qua. Non sông ở đó và con người thời nhà trần vẫn kiên trì vững vàng, bản lĩnh tự tin sẵn sàng chiến đấu với những kẻ thù lớn hơn mình rất nhiều. Đây là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão, là bản lĩnh của con người thời nhà trần, cái tầm vóc của con người lớn lao mang tầm vóc của giang sơn.Trải qua biết bao nhiêu mùa thu mà họ vẫn ở đó, kiên cường, mạnh mẽ bảo vệ quê hương đất nước của mình.

binh-giang-bai-tho-to-long-cua-pham-ngu-lao

Đến với câu thơ thứ hai là vẻ đẹp của quân đội thời nhà Trần

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.

Tam quân nghĩa là ba quân. Vậy, ba quân này nghĩa là gì? Nghĩa là ba cánh quân, đây là cách bày binh bố trận của người xưa. Họ chia ra làm tiền quân, trung quân và hậu quân. Vậy, sức mạnh của quân đội thời nhà trần được thể hiện như thế nào? “Tỳ” nghĩa là con báo, “hổ” là con hổ, vậy mà tiếc rằng trong bản dịch của Bùi Văn Nguyên lại không thấy xuất hiện con hổ con báo nào cả. Tác giả ví von quân đội nhà Trần không phải là một đại quân ô hợp mà ở đó là một đại quân mạnh mẽ tựa như hùng beo. Hình ảnh này không quá xa lạ trong văn chương, nếu ai đã từng học “Bình ngô đại cáo” chúng ta sẽ nhớ đến câu “Tướng sĩ kén tay tì hổ – Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” của Nguyễn Trãi. Nghĩa là quân đội phải dũng mãnh như hổ báo, còn bề tôi thi phải là những người tâm túc. Đến con hổ cũng phải nằm im để vuốt răng cho nó, đây phải là những người cực kì tin tưởng. Ở đây, sức mạnh của quân đội thời nhà trần được ví như cái giống hùng beo, hổ báo, một đại quân vô cùng thiện chiến. Đây không phải là nghệ thuật nói quá, bởi ta có ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, sức mạnh của đại quân nhanh nhẹn, mạnh mẽ tựa như hùng beo, mạnh như hổ báo. “Khí thôn Ngưu” cái khí thế của họ, cái bản lính của họ có thể hiểu theo 2 cách. “Ngưu” có nghĩa là con trâu, nghĩa là ăn thịt của con trâu vô cùng dễ dàng. Tại sao lại là hình ảnh con trâu mà không phải là con vật khác, vì trong quan niệm của người xưa “con trâu” là đầu cơ nghiệp nó gắn liền với những cái rất to lớn. Vậy mà nuốt trôi con trâu vô cùng dễ dàng, làm được những việc kì vi, phi thường và lớn lao. Hoặc ta có thể hiểu khí thế của họ át đi cả sao Ngưu ở trên trời.

Câu thứ 3, khép lại vẻ đẹp con người , quân đội thời nhà Trần và mở ra ở đó là chí làm trai. Trong thơ ca trung đại, văn chương phải mang vẻ đẹp giáo huấn, giáo dục. Và ở hai câu thơ sau, nói về chí làm trai đối với tư tưởng tư duy của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Người đàn ông trên đời thì phải luôn luôn làm được bốn việc:” tu thân, bề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có rất nhiều tác phẩm thơ viết về chí làm trai như trong bài “Lưu biệt khi xuất dương” Phan Bội Châu đã từng viết:

“Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời”

Hay trong ca dao tục ngữ của Việt Nam khi phê phán những con người không có chí làm trai

 " Làm trai cho đáng sức trai

Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng

Thì ở đây chí làm trai của nhà thơ này được thể hiện như thế nào?

“Nam nhi vị liễu công danh trái”

Tác giả đề cập đến công danh, người đàn ông trong đời thì phải luôn luôn lập công danh. Lập công nghĩa là làm được rất nhiều những điều to lớn với quê hương đất nước. Lập danh là để lại tiếng thơm cho muôn đời. Mặc dù là 1 danh tướng thời Trần, trăm trận trăm thắng không biết bao nhiêu chiến công được ông lập nên. Nhưng trong trái tim của ông vẫn luôn luôn canh cánh về món nợ công danh. Để ta thấy được tầm vóc Phạm Ngũ Lão, không bao giờ biết bằng lòng những gì mà ông đã làm được cho đất nước, ông muốn phải làm được nhiều hơn nữa cho giang sơn cho đất nước.

binh-giang-bai-tho-to-long-cua-pham-ngu-lao-1

" Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu "

Câu thơ cuối, kết lại vẻ đẹp của một tác phẩm. Nghệ thuật được sử dụng ở đây là nghệ thuật “điển cố”. Điển cố là tên những con người có thật trong lịch lịch sử trở thành mẫu mực, trở thành chất liệu để đưa vào văn chương. Nhà thơ đề cập tới “Vua hầu” mà Vua hầu là Khổng Minh tự là Gia Cát Lượng. Là quân sư số 1 thời tam quốc. Phò tá Lưu Bị trong việc xây dựng lên nhà Thục Hán tạo thành thế chân vạc Tam Quốc Diễn Nghĩa và ông có muôn vàn chiến công hiểm hách như đại chiến Xích Bích, là một con người là một tư cách lớn lao cả đời vì đất nước vì nhân dân. Thái độ của tác giả ở đây đó là sự luống thẹn, có rất nhiều sự luống thẹn khi chúng ta so sánh mình với người khác, nó làm cho con người ta trở nên thấp kém, thấp hèn nhưng nếu so với vua hầu thì chẳng có cái gì thấp kém cả. Phạm Ngũ Lão cũng là 1 danh tướng thời nhà Trần nhưng để ta thấy được cái từ luống thẹn này thể hiện được sự khiêm tốn và khát vọng được làm nên những điều lớn lao hơn nữa đó là cái chí làm trai. Không phải ngẫu nhiên mà một người chỉ đan xọt giữa đường vậy mà trở thành môn khách và sau trở thành con rể của Trần Hưng Đạo. Một con người có tầm vóc, một con người có chí lớn, là con người bình dân nhưng lại trở thành danh tướng thời nhà Trần trăm trận trăm thắng. Và cũng chỉ có ông mới có chuyện vua Trần Minh Tông bỏ năm ngày không lên chầu để thể hiện sự xót thương, thương nhường,quốc tang.

Một bài thơ chỉ vỏn vẹn trong 28 chữ nhưng đủ để ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách con người Phạm Ngũ Lão. Một nốt nhạc trong một bản giao hưởng về lòng yêu nước của những con người thời nhà trần mang trong mình hào khí Đông A.

Post Author: admin