Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

(Văn mẫu lớp 9) – Bếp lửa là bài thơ khơi gợi lên những ký ức tuổi thơ dù nghèo khó nhưng ngập tràn tình yêu thương. Bài viết này sẽ đi phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.

Đề bài: phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

BÀI LÀM

Tuổi thơ luôn là khoảng thời gian đáng nhớ nhất trong cuộc đời mỗi con người. Những người đã gắn bó, những tình đã trao trong những tháng năm đó sẽ mãi là kỉ niệm đẹp là chẳng thể quên. Đó cũng là lý do nhiều tác phẩm văn học, thơ ca lấy cảm hứng viết tuổi thơ, về thứ tình cảm thiêng liêng trong những tháng năm ấy. Bếp lửa của Bằng Việt cũng là một bài thơ được viết lên với cảm hứng như thế. Trong bài viết này, chúng ta hãy cùng đi phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.

Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

phan-tich-bai-tho-bep-lua-cua-bang-viet-1

Bếp lửa của Bằng Việt được viết lên bằng nỗi nhớ về những tháng năm tuổi thơ, nhớ về người bà tần tảo của mình. Tác giả viết bài thơ trong hoàn cảnh đang đi du học tại Liên Xô. Có lẽ chính bởi trong hoàn cảnh du học nơi xứ người nên những dòng thơ của tác giả càng chất chứa sự nhớ nhung da diết dành cho người bà của mình. Hình ảnh người cháu cùng bà mình trải qua cuộc sống khổ cực, vất vả nhưng vẫn luôn ngập tràn tình yêu thương, chăm sóc. Sự tần tảo, chở che của bà làm vơi bớt đi những nỗi cô đơn của người cháu khi bố mẹ đi làm xa. Những niềm hạnh phúc của cháu cũng rất giản dị được khắc họa qua hình ảnh bếp lửa luôn ấm áp tình thương.

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Bếp lửa vốn là một hình ảnh thân thuộc của mỗi gia đình ở làng quê. Vì vậy, chỉ với hai câu đầu của bài thơ tác giả đã vẽ lên một khung cảnh đơn sơ, giản dị nhưng luôn ấm áp tình thương. Hai câu thơ như lột tả được hết khung cảnh cũng như hành động trong đó. Mỗi buổi sớm mai khi sương vẫn còn bao trùm tất cả không gian, người bà ân cần nhen nhóm lên ngọn lửa thực nhưng cũng là nhen nhóm lên ngọn lửa của tình cảm, của sự yêu thương. Hình ảnh người bà tần tảo chăm nuôi cháu không ngại nắng mưa đã khắc sâu trong tâm khảm của người cháu để rồi đến một thời điểm vỡ òa thốt lên “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Câu thơ như diễn tả hết nỗi lòng của người cháu. Đó là sự xót xa trước những vất vả, gian truân, sự hi sinh thầm lặng trong cuộc đời bà để lo cho cháu đầy đủ cái ăn, cái mặc. 

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

Khi phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt ta thấy những kỉ niệm của tuổi thơ cứ ùa về theo từng câu, từng chữ. Ngoài những kỉ niệm yên bình với bà bên bếp lửa còn có những kỉ niệm nghèo khó ám ảnh trong tâm trí. Kỉ niệm về những tháng năm cơ cực của nạn đói năm 1945, người cháu và bà của mình đã trải qua. Câu thơ “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi” đã phác họa lên chân thực nhất khung cảnh của thời điểm lúc đó. Giữa cái không khí u ám của cái đói, cái nghèo bao trùm lên tất cả, tình thương của bà đã giúp xoa dịu trái tim bé nhỏ của người cháu, đã giúp phần nào quên đi những nỗi khốn khổ. Những chi tiết như “khói hun nhèm mắt cháu” “sống mũi còn cay” cho thấy nỗi ám ảnh về cái nghèo khổ trong tâm trí của đứa trẻ 4 tuổi đến tận bây giờ.

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”

Suốt những tháng năm tuổi thơ, cháu cùng bà đã luôn nhóm lên ngọn lửa nồng ấm yêu thương, ngọn lửa của sự sống để đi qua những giai đoạn khó khăn. Vì có bà, có ngọn lửa “ấp iu nồng đượm” đã nuôi cháu khôn lớn, đã mang đến những kỉ niệm chẳng thể nào quên trong suốt chặng đường đời. Cụm từ “8 năm ròng” đã thể hiện được sự đằng đẵng trong quãng thời gian tuổi thơ đó. Ngoài những khó khăn, cơ cực, trong tâm trí người cháu còn có những kỉ niệm bình yên bên bà. Đó là tiếng tu hú kêu, là những câu chuyện bà kể. Tiếng tu hú mà tác giả nhắc đến cũng là một dụng ý nghệ thuật để nói lên sự khắc khoải nhớ nhung của tác giả với người bà của mình. 

“Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa? ”

 Vẫn là những lời thơ thủ thỉ theo dòng hoài niệm của tác giả qua đó làm nổi bật lên sự sự tận tụy của người bà chăm lo cho cháu khi “Mẹ cùng cha công tác bận không về”. Trong suốt quãng thời gian tuổi thơ, bà như một người mẹ, người cha, người thầy chăm lo, dạy bảo cho người cháu. Khi phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt ta thấy tác giả rất hay dùng cấu trúc “bà-cháu” để thể hiện sự gắn kết, thương yêu của người bà và người cháu. Bà dạy cháu những bài học cuộc sống, bà dạy cháu nét chữ, bà dạy cháu nên người, bà dạy cháu thành người có ích cho đất nước.

phan-tich-bai-tho-bep-lua-cua-bang-viet

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi 
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi 
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh 
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh: 
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố, 
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ, 
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

Ngay cả trong hoàn cảnh chiến tranh chia cắt nhưng hình ảnh người bà vẫn hiện lên thật đẹp với tấm lòng cao cả. Bà luôn “vững lòng” là điểm tựa vững chắc cho người cháu. Qua lời dặn của bà: “Cứ bảo nhà vẫn được bình yên” không chỉ thể hiện tình cảm yêu thương con cháu vô bờ bên mà còn là lời ca ngợi sự hi sinh thầm lặng cao cả của người phụ nữ Việt Nam để người ở nơi biên cương được yên lòng. 

“Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, 
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn, 
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

Hình ảnh bếp lửa lại xuất hiện một lần nữa thân thương và giản dị. Nạn đói đã qua đi, sự bình yên được trả lại, hai bà cháu lại bên túp lều tranh nhen nhóm lên những ngọn lửa của yêu thương, của niềm tin vào hạnh phúc sau này. 

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa 
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ 
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”

Bà vẫn vậy, vẫn tảo tần, vẫn “lận đận” “nắng mưa” suốt một đời vì con, vì cháu, vì tình thương vô bờ bến của bà. Và cũng vẫn vậy, người cháu vẫn luôn nhớ về bà với lòng kính trọng, sự biết ơn với bà.

“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm, 
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi, 
Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui, 
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ… 
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

 Tác giả nhấn mạnh vào điệp từ “nhóm” bốn lần, nhưng mỗi một lần lại mang một cung bậc cảm xúc khác nhau để khơi gợi những ký ức không thể quên của những tháng năm tuổi thơ cùng bà đó. Với cách nhấn mạnh này, tác giả cũng muốn khẳng định sự hi sinh to lớn của bà, nhấn mạnh ý nghĩ quan trọng của ngọn lửa mà bà nhóm lên mỗi ngày. Rồi mai này, cháu có trưởng thành, có đi xa cũng sẽ mãi không bao giờ quên.

“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu, 
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, 
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: 
Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?”

Dù tháng năm có trôi qua, cháu khôn lớn trưởng thành ở một nơi xa thì hình ảnh bà bên bếp lửa vẫn khắc sâu trong tâm trí. Câu hỏi kết bài “Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?” gợi lên bao thương nhớ về một vùng trời kỉ niệm của tuổi thơ có bà, có bếp lửa, có túp lều, có chim tu hú, có những cánh đồng và có cả những gian khổ, đói nghèo.

Trên đây là phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt. Hi vọng những phân tích này sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về bài thơ này.

>>>Xem thêm: Phân tích truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa
   

Post Author: admin